American College of Surgeons, 16-20 tháng 10

American College of Surgeons, 16-20 tháng 10

Cuộc họp thường niên của Trường Cao đẳng Bác sĩ phẫu thuật Hoa Kỳ được tổ chức từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 10 tại San Diego và thu hút người tham gia từ khắp nơi trên thế giới, bao gồm bác sĩ phẫu thuật, chuyên gia y tế, chuyên gia y tế đồng minh và quản trị viên. Hội nghị bao gồm hàng trăm phiên họp tổng quát và chuyên khoa, các khóa học sau đại học, trình bày báo cáo khoa học, trình bày giáo dục dựa trên video và áp phích tập trung vào những tiến bộ mới nhất trong chăm sóc phẫu thuật.

Trong một nghiên cứu, Andrew M. Ibrahim, MD, Đại học Michigan ở Ann Arbor, và các đồng nghiệp đã phát hiện ra rằng nhiều khía cạnh của thiết kế phòng bệnh có thể ảnh hưởng đến sự phục hồi của bệnh nhân sau phẫu thuật.

Trên sơ đồ mặt bằng bệnh viện của một trung tâm học thuật lớn, các tác giả đã lập bản đồ các đặc điểm thiết kế, bao gồm phòng đơn và phòng đôi, khoảng cách từ trạm điều dưỡng chính và có hay không có đường nhìn thẳng tới phòng. Sau đó, các tác giả sử dụng dữ liệu từ hồ sơ bệnh án điện tử để đánh giá xem bệnh nhân có phục hồi khác nhau tùy theo phòng mà họ được chỉ định. Các nhà điều tra nhận thấy rằng việc phân công phòng bệnh dường như không phải là ngẫu nhiên, và trong nhiều trường hợp, những bệnh nhân ốm nặng hơn dường như được phân vào các phòng có thiết kế đẹp hơn. Ngoài ra, ngay cả sau khi điều chỉnh rủi ro (có tính đến mức độ bệnh tật của bệnh nhân), bệnh nhân ở những phòng có thiết kế phòng tốt hơn dường như có tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật thấp hơn so với những bệnh nhân ở những phòng không có thiết kế thuận lợi.

“Phát hiện của chúng tôi có hai ý nghĩa quan trọng trong tương lai. Thứ nhất, nó cung cấp dữ liệu quan trọng để thông báo cách các bệnh viện trong tương lai nên được thiết kế như thế nào. Cụ thể là bằng cách cung cấp dữ liệu lâm sàng cho các tính năng thiết kế cần được ưu tiên”, Ibrahim nói. “Thứ hai, trong khi nhiều bệnh viện có thể không theo đuổi việc cải tạo xây dựng hoặc xây mới, họ có thể chăm sóc ‘đúng quy mô’ bằng cách đưa những bệnh nhân ốm yếu nhất vào những phòng có thiết kế tốt nhất.”

Thông cáo báo chí

Trong một nghiên cứu khác, Marco Sozzi, MD, thuộc Trung tâm Y tế Hạt Los Angeles / Đại học Nam California, và các đồng nghiệp đã phát hiện ra rằng nhiễm COVID-19 có thể làm xấu đi kết quả của bệnh nhân chấn thương, ngay cả khi họ hoàn toàn không có triệu chứng và không có dấu hiệu X quang nhiễm trùng.

Các tác giả nhằm mục đích đánh giá xem nhiễm COVID-19 có thể có tác động đến kết quả của bệnh nhân chấn thương hay không, ngay cả khi họ hoàn toàn không có triệu chứng nhiễm trùng. Bệnh nhân chấn thương có kết quả xét nghiệm dương tính với nhiễm COVID-19 nhưng không có bất kỳ triệu chứng hoặc dấu hiệu X quang nào của bệnh virus được so sánh với bệnh nhân chấn thương có kết quả xét nghiệm âm tính với nhiễm COVID-19. Bệnh nhân dương tính với COVID-19 và COVID-19 âm tính được thống kê phù hợp theo các đặc điểm dịch tễ học và đặc điểm khác nhau của chấn thương. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những bệnh nhân chấn thương bị nhiễm trùng COVID-19 không có triệu chứng có tỷ lệ biến chứng tim cao hơn, thời gian nằm viện lâu hơn và tổng chi phí nằm viện cao hơn.

Sozzi cho biết: “Kết quả của nghiên cứu này đóng góp vào bằng chứng về việc tăng nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân nhiễm COVID-19, bao gồm cả bệnh nhân phẫu thuật và bệnh nhân chấn thương. “Chắc chắn, nghiên cứu này chứng minh rằng bệnh nhân nhiễm COVID không có triệu chứng khác với bệnh nhân không bị nhiễm và vi rút này có thể có tác động ngay cả khi lâm sàng im lặng.”

Thông cáo báo chí

Jason Strelzow, MD, Đại học Chicago, và các đồng nghiệp phát hiện ra rằng phụ thuộc vào cần sa có liên quan đến nguy cơ nhiễm trùng cao hơn sau khi nội soi khớp gối và vai.

Sử dụng PearlDiver, một cơ sở dữ liệu yêu cầu bảo hiểm quốc gia, các tác giả đã xác định những bệnh nhân phụ thuộc vào cần sa đã trải qua nội soi khớp gối hoặc khớp vai. Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật của huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi và nhiễm trùng đã được đánh giá. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sự phụ thuộc vào cần sa có liên quan đến nguy cơ nhiễm trùng cao hơn sau khi nội soi khớp gối và vai. Phát hiện này độc lập với các yếu tố nguy cơ đã biết của việc sử dụng thuốc lá, tuổi tác và béo phì.

“Cần thêm nhiều nghiên cứu để hiểu mối quan hệ giữa liều lượng và thang điểm ngừng sử dụng. Ngoài ra, các bước tiếp theo là đánh giá tác dụng của cần sa đối với những người không phụ thuộc và trong các thủ thuật mở hoặc các loại trường hợp phẫu thuật khác”, Strelzow nói. “Đối với thực hành lâm sàng, điều này có thể cung cấp cho người chăm sóc một số thông tin để giúp thông báo cho bệnh nhân hướng dẫn về thời gian phẫu thuật liên quan đến việc ngừng sử dụng cần sa.”

Thông cáo báo chí

ACS: Trường hợp viêm túi thừa Mức độ nghiêm trọng tăng sớm trong đại dịch

THỨ SÁU, ngày 21 tháng 10 năm 2022 – Trong đại dịch, khối lượng phẫu thuật giảm, nhưng biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm túi thừa trở nên nghiêm trọng hơn, theo một nghiên cứu được trình bày tại Diễn đàn khoa học của Đại hội lâm sàng các bác sĩ phẫu thuật Hoa Kỳ 2022, được tổ chức từ tháng 10. 16 đến 20 ở San Diego.

Đọc toàn văn

ACS: Người sống có tiềm năng hoạt động trong hơn 100 năm

THỨ SÁU, ngày 21 tháng 10 năm 2022 – Một nhóm nhỏ các lá gan đã được cấy ghép và có tuổi tích lũy ít nhất 100 năm đã được xác định, và những bệnh nhân nhận những lá gan này có kết quả tốt, theo một nghiên cứu được trình bày tại Diễn đàn Khoa học của Đại hội lâm sàng các bác sĩ phẫu thuật Hoa Kỳ năm 2022, được tổ chức từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 10 tại San Diego.

Đọc toàn văn

© 2022 HealthDay. Đã đăng ký Bản quyền.


Source link

Leave a Reply

Your email address will not be published.